Chủ đề liên quan

Công ty Luật Hùng Thắng
Số điện thoại Công ty Luật Hùng Thắng
Liên hệ Công ty Luật Hùng Thắng

Quy định của pháp luật về việc xử lý trường hợp bị án treo nhưng đi khỏi nơi cư trú không thông báo và một số vướng mắc khác liên quan sẽ được Luật sư tư vấn cụ thể:

1. Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật Hình sự 2015;
  • Luật Thi hành án Hình sự 2025;
  • Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống, chống bạo lực gia đình.

2. Nội dung

Luật Thi hành án Hình sự 2025 có quy định về Nghĩa vụ của người hưởng án treo và các quy định liên quan như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ của người được hưởng án treo

1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 80 của Luật này.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; chỉ được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của Tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 87 và Điều 88 của Luật này.

4. Chấp hành quy định tại Điều 87 của Luật này.

5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

6. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình."

"Điều 87. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo

1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp quy định tại Điều 88 của Luật này hoặc trường hợp người được hưởng án treo bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.

2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan tại nơi cư trú, người được hưởng án treo phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.

Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.

Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật này.

4. Người được hưởng án treo bị tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian thử thách."

"Điều 86. Việc kiểm điểm người được hưởng án treo

1. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát tổ chức kiểm điểm:

a) Vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 82 của Luật này và đã bị nhắc nhở bằng văn bản về việc vi phạm mà tiếp tục vi phạm;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính;

c) Thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu."

"Điều 89. Xử lý vi phạm đối với người được ưởng án treo

1. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được hưởng án treo phải có mặt trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Hếu thời hạn này mà người được hưởng án treo vẫn không có mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú. Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo bỏ đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc không xin phép, Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, nhắc nhở bằng văn bản và triệu tập người được hưởng án treo đến làm việc nhưng họ vẫn không có mặt thì thực hiện kiểm điểm vắng mặt và lập biên bản kiểm điểm vắng mặt. Sau khi kiểm điểm, Công an cấp xã, đơn vị quân đội tiếp tục triệu tập người được hưởng án treo đến làm việc mà họ vẫn không có mặt thì lập biên bản và nhắc nhở bằng văn bản, tiếp tục triệu tập nhưng họ vẫn không có mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản xác nhận sự vắng mặt và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo gửi Tòa án có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này để xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

b) Báo cáo của Công an cấp xã hoặc của đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;

c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt vi phạm hành chính;

đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

e) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, Tòa án phải gửi quyết định cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải làm thủ tục đưa người bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đi chấp hành án phạt tù. Trường hợp người bị Tòa án quyết định chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.

Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lưu quyết định và các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo và thông báo quyết định cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo để tiếp tục quản lý, giám sát, giáo dục.

6. Trường hợp người được hưởng án treo bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản lý, giám sát, giáo dục họ.

7. Trường hợp người được hưởng án treo bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ."

Ngoài ra, điểm đ và e Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi "đ) Người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú không xin phép hoặc không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc vắng mặt tại nơi cư trú quá thời hạn cho phép;".

Như vậy, căn cứ các quy định trên thì việc người bị kết án đi khỏi nơi cư trú mà không thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thì hành án hình sự 2025 thì có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. Trường hợp sau khi xử phạt vi phạm hành chính mà bạn bạn lại tiếp tục vi phạm thì có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 86 và Điều 89 Luật thi hành án hình sự nêu trên.

Trên đây là nội dung tư vấn về xử lý trường hợp người hưởng án treo nhưng đi khỏi nơi cư trú không thông báo theo quy định tại Luật Thi hành án Hình sự 2025 và các văn bản quy định pháp luật liên quan khác. Trường hợp bạn còn vướng mắc cần tư vấn trực tiếp hãy liên hệ với chúng tôi. Luật sư tư vấn của Luật Hùng Thắng luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của bạn.


25/03/2021
Lịch trình cho

Tư vấn miễn phí

Công ty Luật Hùng Thắng chuyên tư vấn doanh nghiệp, tư vấn luật doanh nghiệp, tư vấn thành lập công ty, tư vấn pháp lý thường xuyên, tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh, tư vấn đất đai, tư vấn hợp đồng, tư vấn hôn nhân, tư vấn ly hôn, tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình, luật sư bào chữa..

19000185