Chủ đề liên quan

Công ty Luật Hùng Thắng
Số điện thoại Công ty Luật Hùng Thắng
Liên hệ Công ty Luật Hùng Thắng

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là khoản tiền thuế mà người có thu nhập chịu thuế phải trích nộp một phần vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên có một số trường hợp không phải quyết toán thuế TNCN. Đó là những trường hợp nào? Hãy cùng Luật Hùng Thắng tìm hiểu quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Căn cứ pháp lý

  • Luật quản lý thuế năm 2019;
  • Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế;
  • Thông tư 156/2013/TT-BTC;
  • Thông tư 92/2015/TT-BTC;
  • Công văn số 636/TCT-DNNCN.

2. Các trường hợp không phải quyết toán thuế TNCN

Theo Khoản 1 Điều 21 thông tư 92/2015/TT-BTC sửa đổi bổ sung chi tiết a.3 Điểm a Khoản 1 Điều 16 thông tư số 156/2013/TT-BTC:

“a.3) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập giải thể, chấm dứt hoạt động có phát sinh trả thu nhập nhưng không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân, chỉ cung cấp cho cơ quan thuế danh sách cá nhân đã chi trả thu nhập trong năm (nếu có) theo Mẫu 25/DS-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này chậm nhất là ngày thứ 45 (bốn mươi lăm) kể từ ngày có quyết định về việc giải thể, chấm dứt hoạt động”.

Theo quy định nêu trên thì tất cả các tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho những cá nhân có ủy quyền trừ những trường hợp sau doanh nghiệp không phải quyết toán thuế TNCN:

– Doanh nghiệp không phát sinh trả thu nhập tức là trong năm doanh nghiệp không phát sinh trả tiền lương cho cá nhân làm việc trong công ty.

– Doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

  • Có phát sinh trả thu nhập nhưng không phát sinh khấu trừ thuế TNCN;
  • Doanh nghiệp cung cấp danh sách cá nhân đã chi trả thu nhập trong năm theo mẫu chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày có quyết định giải thể, chấm dứt hoạt động.

3. Các trường hợp cá nhân không phải quyết toán thuế TNCN
Theo a.3 Điểm a Khoản 3 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC sửa đổi , bổ sung a.3 Điểm a Khoản 2 Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định như sau:

“a.3) Khai quyết toán thuế
Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo trừ các trường hợp sau:
– Cá nhân không phát sinh thuế TNCN phải nộp thêm.
– Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau.
– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 (mười) triệu đồng, đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế tại nguồn theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
– Cá nhân được người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm mà người sử dụng lao động hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đã khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm tương ứng với phần người sử dụng lao động theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 14 Thông tư số 92/2015/TT-BTC thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.”

Tổng cục thuế cũng đã ban hành công văn số 636/TCT-DNNCN về việc hướng dẫn quyết toán thuế TNCN, trong đó lưu ý một số trường hợp không phải quyết toán thuế TNCN. Như vậy theo các quy định trên thì các cá nhân đều phải khai quyết toán thuế TNCN trừ những trường hợp sau đây thì không phải khai quyết toán thuế TNCN:

  • Cá nhân có số thuế TNCN phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo;
  • Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này;
  • Ngoài ra, cá nhân được người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm mà người sử dụng lao động hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đã khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm tương ứng với phần người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động thì người lao động không phải quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập này.
  • Cá nhân có số thuế TNCN phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống. 

Cá nhân được miễn thuế trong trường hợp này phải tự xác định số tiền thuế được miễn, không bắt buộc phải nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN và hồ sơ miễn thuế. Miễn thuế 50.000 đồng tưởng là con số nhỏ nhưng lại có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Bởi khi cá nhân bị nợ thuế dù ít hay nhiều thì số tiền đó sẽ bị tính tiền chậm nộp 0.03%/ngày trên số tiền thuế chậm nộp và cá nhân đó phải mang danh nợ thuế đối với ngân sách nhà nước.

Trên đây là những quy định của pháp luật về những trường hợp không phải quyết toán thuế TNCN, nếu bạn còn bất cứ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.

>>Xem thêm: Hồ sơ quyết toán thuế TNCN


09/05/2021
Lịch trình cho

Tư vấn miễn phí

Công ty Luật Hùng Thắng chuyên tư vấn doanh nghiệp, tư vấn luật doanh nghiệp, tư vấn thành lập doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thường xuyên, tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh, tư vấn đất đai, tư vấn hợp đồng, tư vấn hôn nhân, tư vấn ly hôn, tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình, luật sư bào chữa..

19000185